Giỏ hàng đang trống ...

Đóng

Hệ thống nhận diện tự động (AIS) - Giải pháp quản lý cho tàu thuyền ven biển

Hệ thống nhận diện tự động (AIS) - Giải pháp quản lý cho tàu thuyền ven biển
Thứ 4, ngày 30/11/2016 | 04:56 PM (GMT +7)
Hệ thống nhận diện tự động (AIS-Automatic Indentification System) ra đời từ tháng 12/2004 từ khi tổ chức hàng hải quốc tế (IMO) và Công ước quốc tế về an toàn sinh mạng con người trên biển (SOLAS) quy định tất cả các tàu có tổng dung tích từ 300 GT trở lên tham gia vận tải quốc tế, các tàu hàng có tổng dung tích từ 500 GT trở lên tham gia vận tải nội địa, ven biển, các tàu chở khách phải trang bị AIS.
 

Hệ thống AIS là hệ thống nhận và phát tín hiệu để truyền vị trí, tốc độ, hướng đi cùng với một số thông tin cố định khác như: tên tàu, số nhận dạng (ID), kích thước và chi tiết chuyến đi,… Hệ thống sẽ tự động trao đổi dữ liệu với các tàu ở gần cũng như các trạm cố định và vệ tinh (hệ thống AIS nhận dạng vệ tinh được ký hiệu là S-AIS). Thông tin được cung cấp bởi thiết bị AIS có thể được hiển thị trên màn hình hay trên hệ thống thông tin và hiển thị biểu đồ điện tử (ECDIS).

            AIS ban đầu được dự định để giúp các tàu biển tránh va chạm cũng như giúp các cơ quan chức năng thuộc cảng biển kiểm soát lưu lượng ra vào cảng tốt hơn. Bộ thu phát AIS bao gồm một GPS để thu thập vị trí và chuyển động chi tiết của tàu, một bộ phát tín hiệu VHF sử dụng trên hai kênh tần số 161,975 MHz và 162,025 MHz (kênh VHF 87 và 88 cũ). Các thông tin này sẽ được phát quảng bá, các tàu và trạm cố định có thể nhận các thông tin này và xử lý nó bằng một phần mềm chuyên biệt và hiển thị thông tin về vị trí tàu trên thiết bị vẽ biểu đồ hay máy tính.

 

Mô hình Hệ thống nhận diện tự động (AIS)

 

Thông thường, các tàu với một máy thu AIS được kết nối với một ăng-ten ngoài đặt trên độ cao 15m so với mặt nước biển sẽ nhận thông tin AIS trong phạm vi từ 15-20 hải lý. Các trạm cố định với anten cao hơn có thể mở rộng phạm vi thu từ 40-60 hải lý, thậm chí sau các ngọn núi xa, tùy thuộc vào độ cao, kiểu ăng-ten và địa vật che chắn quanh anten và điều kiện thời tiết. Nhân tố quan trọng nhất để thu tốt là độ cao của anten trạm cố định so với mặt nước biển. Chúng ta có thể thu được tín hiệu từ một tàu chở hàng cách xa 200 hải lý với một ăng-ten nhỏ di động đặt trên núi có độ cao 700 m so với mặt nước biển ngoài đảo. Các trạm cố định hiện tại bao phủ phạm vi khoảng 40 dặm và định kỳ nhận thông tin từ một vài tàu ở khoảng cách xa hơn.

 

            Tiêu chuẩn AIS bao gồm nhiều tiêu chuẩn con được quy định bởi IMO/IEC. Mỗi loại sản phẩm của các nhà cung cấp khác nhau sẽ có những đặc điểm kỹ thuật chi tiết riêng nhưng vẫn phải đảm bảo về tính toàn vẹn tổng thể của hệ thống AIS toàn cầu. Những đặc tính kỹ thuật chính được miêu tả như những tiêu chuẩn của hệ thống AIS là:

            Ngày 02/12/2013, Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành Thông tư tư số 19/2013/TT-BTTTT về việc quy định tần số cấp cứu, an toàn, tìm kiếm, cứu nạn trên biển và hàng không dân dụng, trong đó quy định tần số 161,975 MHz và 162,025 MHz là các tần số AIS1 và AIS2, được sử dụng đối với các máy phát tìm kiếm và cứu nạn AIS (AIS-SART)

 

Thiết bị AIS thiết kế theo lớp A (Class A)

            Mỗi bộ thu phát AIS bao gồm một bộ phát tín hiệu AIS, hai bộ thu AIS sử dụng đa truy cập phân chia thời gian (TDMA), một bộ gọi chọn số (Digital Selective Calling-DSC) băng tần VHF, những liên kết đến hệ thống cảm biến và hiển thị trên tàu thông qua tiêu chuẩn viễn thông điện tử hàng hải (NMEA 0183 hay còn được biết là IEC 61162). Một hệ thống AIS thông thường làm việc trong chế độ tự động liên tục bất kể nó đang hoạt động trên vùng biển mở hay khu vực ven biển và nội địa. Kênh hàng hải 87B (161,975 MHz) và 88B (162,025 MHz) sử dụng điều chế GMSK tốc độ 9,6Kb/s với độ rộng kênh 25 hoặc 12,5 KHz dùng giao thức gói HDLC. Mặc dù chỉ có một kênh là cần thiết nhưng mỗi trạm truyền và nhận trên hai kênh vô tuyến để tránh can nhiều và cho phép chuyển kênh mà không bị mất liên lạc. Hệ thống loại A phải được tích hợp màn hình hiển thị, công suất phát 12,5W, khả năng hiển thị nhiều tàu cùng lúc và có các lựa chọn chức năng và đặc tính tinh vi.